Chuyện đi sứ phương Bắc của ông tổ nghề thêu Lê Công Hành

Ngày đăng: 08/06/2019
Lê Công Hành tên khai sinh là Trần Quốc Khái. Ông sinh năm Bính Ngọ (1606), lớn lên tại xã Quất Động, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông lúc bấy giờ (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội).

Trong một lần đi sứ và bị triều đình phương Bắc dồn vào thế khó để thử tài, Lê Công Hành đã học học kỹ thuật thêu và học được cách làm lọng, rồi về truyền dạy cho dân chúng.

Học nghề từ lần đi sứ phương Bắc

Chuyện kể rằng thời còn nhỏ, cậu bé Khái đã rất ham học hỏi. Cậu rất chăm chỉ, cả khi đốn củi, lúc kéo vó tôm cậu đều học. Buổi tối, khi nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để lấy ánh sáng đọc sách. Không chỉ nổi tiếng ham học hỏi mà Khái còn rất thông minh, cậu học đến đâu là nhớ đến đấy.

Khi lớn lên 18 tuổi, Khái cũng như bao nhiêu thanh niên trong làng đều bị lý dịch bắt đi phu đắp đê sông Hồng. Nhưng vì sức yếu không vác nổi những hòn đất to, Khái bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa.

ông tổ nghề thêu lê công hành

Giữa lúc đó, có một viên quan trông coi đê đi ngang qua nhìn thấy một thanh niên mặt mũi khôi ngô tuấn tú, lấy làm lạ nên viên quan dừng lại hỏi: “Ngươi bị tội gì mà phải chôn chân như vậy?”

Khái lễ phép đáp: “Thưa, tôi không vác nổi những hòn đất to nên bị phạt”.

Viên quan liền cười nói: “Ngươi là học trò à? Vậy ta ra một vế đối, nếu ngươi đáp lại được thì ta tha cho”. Khái gật đầu đồng ý xin vâng.

Viên quan liền đọc vế đối: "Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy".

Tuy vế đối ra khá oái oăm, suy nghĩ chốc lát, Khái đưa ý đối lại: "Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn, phù quân vương, phỉ chí mới cam". Nghe xong viên quan gật đầu khen ngợi và xin cho tha về. Sau đó, Khái càng nổi tiếng hay chữ. Đến kỳ thi tuyển, Trần Quốc Khái lều chõng đi thi đỗ tiến sĩ, giữ chức quan to trong triều đình lúc bấy giờ dưới vua Lê Chân Tông.

Năm Bính Tuất - 1646, Trần Quốc Khái được cử đi sứ nhà Minh. Để thử tài sứ thần nước Nam, vua quan nhà Minh nảy ý nghĩ không dẫn ông đi đường chính mà dẫn theo đường tắt. Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương thực, Ông bèn cho người chặt tre đan thành những cái dậm, xuống suối kiếm cá và lên rừng tìm trái cây để ăn. Nhờ vậy, đoàn sứ bộ vượt qua đường rừng núi mà vẫn khỏe mạnh như thường.

Hoàn thành công việc nhưng vua Minh vẫn muốn thử tài trí của sứ thần thêm lần nữa, bèn sai người dựng một cái lầu cao chót vót rồi mời ông lên đấy chơi. Khi ông lên đến nơi thì vua Minh ở dưới sai người cất thang đi. Ở trên lầu suốt một ngày, mà ông vẫn không thấy ai đem cơm nước đến.

dạy nghề thêu cho dân

Đưa mắt nhìn xung quanh, Ông chỉ thấy bàn thờ có tượng Phật Di Lặc, trước bàn thờ, hai cái lọng trông rất đẹp, phía trên có treo bức tranh thêu rồng phượng, ghi nổi 3 chữ “Phật tại tâm”. Dưới chân bệ, có một cái chum to đựng nước và trong góc hai cây tre, một con dao, nhưng hoàn toàn không có thức ăn.

Một ngày trôi qua, bụng đói mà không có cơm ăn, chỉ có chum nước, ông nghĩ có nước uống tất phải có cái ăn. Quay ra ngắm bức tượng, tò mò xem thử xem nó làm bằng gì, ông lấy móng tay cậy vào lưng Phật thì thấy bật ra một mảng con, lấy tay bóp vụn ra được như bột. Ông đưa lên miệng nhấm thử thì thấy ngọt, hóa ra tượng làm từ bột bánh khảo, phát hiện ra đồ ăn ông cứ ngày 2 bữa bẻ dần tượng Phật để sống.

Ngồi không buồn quá, Ông nghĩ rồi bèn chẻ tre, quan sát kỹ hai cây lọng và làm thep. Khi đã làm được lọng rồi, ông lại hạ bức trướng, tháo các đường chỉ kim tuyến để tìm hiểu cách thêu, rồi lại dùng chỉ đó thêu vào. Khi thêu xong, ông nhìn thấy nét chữ thêu mới giống hệt như cũ.

Khi ăn đến những mảng pho tượng cuối cùng và cũng là lúc gần hết chum nước, Trần Quốc Khái bèn nghĩ cách xuống. Trong buổi chiều ngồi ngắm trời mây, Ông nhìn thấy những con dơi xòe cánh cứ chao đi chao lại, ông chợt nghĩ ngay đến hai cái lọng, rồi ôm lọng nhảy xuống đất bình an vô sự.

Trước tài trí ứng xử linh hoạt của sứ thần Đại Việt, triều đình nhà Minh vô cùng kính phục, bày tiệc lớn tiễn đưa đoàn sứ về nước. Bằng sự tài trí và ứng xử không ngoan của mình, sau khi về nước, Ông được phong tước, thăng chức lên làm Công bộ thượng thư thái bảo, được đổi họ, lấy tên là Lê Công Hành.

Ông tổ Lê Công Hành truyền nghề cho dân

Ít lâu sau, Lê Công Hành đem nghề thêu dạy cho dân làng Quất Động rồi sau đó phát triển rộng ra các tỉnh khác, sang cả Bắc Ninh, Hưng Yên. Sau khi Lê Công Hành mất, để ghi nhớ công ơn ông nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và tôn ông là ông tổ nghề thêu.

 

Thêu Việt